sáng kiến 2012 PT bậc cao

Nhấn vào đây để tải về
Hiển thị toàn màn hình
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: chautuan
Người gửi: Nguyễn Châu Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:40' 22-06-2012
Dung lượng: 521.5 KB
Số lượt tải: 364
Số lượt thích: 0 người
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các môn học ở phổ thông, môn toán giữ một vị trí quan trọng. Qua việc học toán học sinh được rèn luyện về mọi mặt như: trí thông minh, phương pháp tính toán hợp lý, nhanh gọn, tạo cho bộ óc làm việc ngăn nắp, có kế hoạch. Từ cuộc sống hàng ngày của con người như : cân đo, đong đếm,…cho đến các ngành công nghiệp phát triển đều rất cần đến toán học.
“ Giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhiệm vụ của ngành giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những công tác mũi nhọn của ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung, của từng cơ sở nói riêng nên việc phát triển bồi dưỡng học sinh giỏi nuôi dưỡng nhân tài là một việc làm thường xuyên, liên tục. Môn toán là một trong những bộ môn thường xuyên tổ chức thi học sinh giỏi nên đòi hỏi từng cơ sở phải xây dựng được đội ngũ học sinh giỏi cho đơn vị mình. Với tâm huyết nghề nghiệp tôi luôn cố gắng phấn đấu để đào tạo và bồi dưỡng ngày càng nhiều học sinh giỏi các cấp bằng cách đi sâu nghiên cứu và giúp các em nắm chắc, sâu từng phần từng nội dung trong chương trình toán lớp 9. Phương trình bậc cao là một đề tài hấp dẫn, thú vị của toán học, vì vậy phương trình bậc cao đã được rất nhiều nhà toán học nghiên cứu. Tuy nhiên, với người học thì giải phương trình bậc cao là một vấn đề khó. Sau nhiều năm giảng dạy môn Toán ở bậc trung học cơ sở tôi nhận thấy mảng giải phương trình bậc cao được đưa ra ở sách giáo khoa lớp 8, 9 là rất khiêm tốn, nội dung sơ lược, mang tính chất giới thiệu khái quát, quỹ thời gian giành cho nó là quá ít ỏi, trong chương trình học lại không có một bài học cụ thể nào. Bên cạnh đó là các nội dung bài tập ứng dụng thì rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Các phương trình bậc cao là một nội dung thường gặp trong các kỳ thi ở Bậc THCS và đặc biệt trong các kỳ thi tuyển sinh vào THPT. Chính vì vậy tôi quyết định chọn chủ đề: ``phương trình bậc cao `` làm sáng kiến cho riêng mình, để giúp các em tìm hiểu được nhiều hơn về phương pháp giải, cách giải đối với các dạng phương trình bậc cao.

PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN

I. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT RA SÁNG KIẾN
Trong chương trình toán học trung học cơ sở và trong các đề thi chúng ta vẫn thường gặp các bài toán về giải phương trình bậc 3,4,5..hoặc phân tích các phương trình đó thành nhân tử, song với học sinh vẫn còn lúng túng vì không biết bắt đầu từ đâu, khi gặp khó khăn không biết làm thế nào để tìm ra lời giải. Riêng với các em học sinh khi gặp dạng toán này không chịu nghiên cứu khảo sát kĩ từng dạng phương trình theo nhiều cách hoặc sử dụng thiếu linh hoạt.
Xuất phát từ vấn đề trên và qua việc giảng dạy môn toán ở trường THCS , qua đọc tài liệu tham khảo và đặc biệt qua việc bồi dưỡng cho đội tuyển học sinh giỏi ở khối 9. Tôi nhận thấy rằng giải một phương trình bậc 3,4,5.. là tương đối khó đối với học sinh THCS và đặc biệt hơn nữa các phương pháp giải phương trình đó không hề có trong chương trình toán THCS do đó đã gây khó khăn không nhỏ đối với học sinh trong khi gặp phải dạng toán này. Học sinh không có một phương pháp cụ thế nào mà chỉ biết mò mẫm một cách vô hướng.
Khi được tiếp xúc với các dạng phương trình bậc cao không những rèn luyện cho HS các năng lực về hoạt động trí tuệ để có cơ sở tiếp thu dễ dàng các môn học khác ở trường THCS .Mở rộng khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế, còn góp phần rèn luyện cho HS những đức tính cẩn thận ,sáng tạo…
Dựa vào hiểu biết, vốn kiến thức và thu thập qua tài liêu, sách báo tôi xin đưa ra một số phương pháp mà tôi cho là phù hợp với học sinh THCS để giải các dạng phương trình bậc cao.
II.KIẾN THỨC CƠ BẢN TRONG GIẢI PHƯƠNG TRÌNH BẬC CAO:
1. Các định nghĩa :
1.1 Định nghĩa phương trình :
Giả sử A(x) = B(x) là hai biểu thức chứa một biến x. Khi nói A(x) = B(x) là một phương trình, ta hiểu rằng phải tìm giá trị của x để các giá trị tương ứng của hai biểu thức này bằng nhau.
Biến x được gọi là ẩn.Giá trị tìm được của ẩn gọi là nghiệm.
Việc tìm nghiệm gọi là giải phương trình. Mỗi biểu thức gọi là một vế của phương.
Avatar

tôi đóng góp thêm vào kho tài liệu sáng kiến Không biết ngượng

 
Gửi ý kiến